Lịch sử phát triển
Năm
1975
Năm
1976
Năm
1977
Năm
1978
Năm
1979
Năm
1980
Năm
1981
Năm
1982
Năm
1983
Năm
1984
Năm
1985
Năm
1986
Năm
1987
Năm
1988
Năm
1989
Năm
1990
Năm
1991
Năm
1992
Năm
1993
Năm
1994
Năm
1995
Năm
1996
Năm
1997
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
Bơi lội TP.HCM 30 năm xây dựng và phát triển
Ba mươi năm sau ngày 30 – 4 – 1975 lịch sử, bộ
môn bơi lội Thành phố Hồ Chí Minh tự hào là một trong các trung tâm bơi
lội lớn nhất của cả nước và tự tin trên đường phát triển hướng đến
những mục tiêu quốc tế ở các giải thi đấu bơi lội Đông Nam Á và cao hơn. Từ một Thành phố chỉ có duy nhất một hồ bơi dài 50m để phục vụ quần
chúng là hồ bơi Yết Kiêu (trước năm 1975 hồ bơi Cercle Sportif
Saigonnaise chỉ để phục vụ giai cấp thượng lưu và Pháp kiều, còn hồ
bơi Hàng Không xây dựng năm 1972 thì chỉ để phục vụ người Mỹ) và
khoảng vài hồ bơi 25m với số VĐV bơi lội chỉ lên đến vài chục người,
đến nay Thành phố đã có hàng trăm hồ bơi lớn nhỏ, trong đó rất nhiều
hồ bơi 50 m đủ tiêu chuẩn thi đấu để hằng ngày phục vụ cho việc tập
luyện của VĐV bơi lội Thành phố ở các lứa tuổi và đông đảo người dân
yêu thích môn bơi lội. Từ khả năng chỉ có thể tổ chức một, hai giải
thi đấu trong một năm, đến nay Thành phố đã có hàng chục giải thi đấu
cấp Thành phố mỗi năm cho mọi lứa tuổi, từ mẫu giáo cho đến người cao
tuổi, người khuyết tật. Thay đổi đó quả đúng là một kỳ công thu được
từ công sức của hàng trăm hàng ngàn cán bộ, chuyên viên trong và ngoài
ngành bơi lội của Sở TDTT TP.HCM qua từng thời kỳ trong 30 năm qua
1. Thời kỳ gầy dựng và phát triển 1975 – 1985:
* Tháng 5 - 1975
sau khi Sài Gòn được tiếp quản, với cơ sở vật chất được đánh giá tốt
nhất khi đó cho nhiều môn thể thao cùng lúc, Cercle Sportif
Saigonnaise (trước giải phóng thuộc người Pháp) được giao cho Sở TDTT
quản lý. Cùng lúc đó, với hai hồ bơi trước ngày giải phóng trực
thuộc Tổng Nha Thanh Niên là hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm và hồ bơi Yết
Kiêu thì Sở TDTT chỉ quản lý hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn hồ bơi Yết
Kiêu được giao cho đơn vị bộ đội C12 quản lý với nhiệm vụ bảo vệ cho
cầu Thị Nghè. Với hai hồ bơi này, bộ môn bơi lội với tinh thần tiến
công cách mạng đã quyết tâm phục hồi và phát triển lực lượng VĐV bơi
lội trong Thành phố vừa được giải phóng.
* Tháng 6 - 1975 bộ môn bơi lội lúc
đó gồm có ông Nguyễn Kim Thể, ông Lê Đức Tầm, ông Đào Công Sanh, bà
Lê Nguyệt Nga, đã kêu gọi các VĐV tập luyện trở lại cũng như kêu gọi
các anh chị cán bộ Tổng Nha Thanh Niên chế độ cũ góp tay cho việc xây
dựng và phát triển môn bơi lội trong Thành phố.
* Ngày 2 – 9 – 1975 bộ môn bơi
lội Thành phố đã tổ chức thành công giải Bơi lội chào mừng ngày Quốc
Khánh đầu tiên của Thành Phố Hồ Chí Minh với khoảng hơn 50 VĐV tham dự
tại Câu lạc bộ Lao Động. Ngay trong giải thi đấu bơi lội đầu tiên sau
ngày Giải Phóng này, một số tay bơi đã đáp lại công sức huấn luyện của
những HLV mới bằng cách phá 2 kỷ lục Bơi lội của Miền Nam Việt Nam lúc
đó: anh Võ Duy Minh phá kỷ lục cự ly 100 m Ngửa; các anh Võ Duy Minh
(Ngửa), Trần Dương Tài (Ếch), Đỗ Như Minh ( Bướm) và Nguyễn Ngọc
Thanh (Tự Do) đã phá kỷ lục cự ly 4 x 100m hỗn hợp.
* Từ tháng 8 - 1975 đến tháng 11 - 1975
Sở TDTT đã tổ chức khóa Bồi Dưỡng Chính Trị và Phương pháp Huấn luyện
các HLV, cán bộ trước đây đã làm việc với chế độ cũ cùng với những VĐV
xuất xắc. Lớp học đầu tiên này được sự trực tiếp giảng dạy của các
giảng viên Mai Văn Muôn, Dương Nghiệp Chí, Đào Công Sanh, Lê Nguyệt
Nga ……. Sau lớp học, Sở TDTT bên cạnh việc duy trì công tác của một
số cán bộ cũ như Lý Kỳ Xuân, Mai Văn Đạt, Phạm Cát Ngọc, Phan Giang
Hà, còn tiếp nhận ba VĐV Đỗ Như Minh, Võ Duy Minh và Trần Dương Tài
vào làm việc chính thức tại Sở TDTT Thành Phố, đây chính là những
người đầu tiên của Thành phố vào làm việc chính thức trong ngành Bơi
lội của Sở TDTT.
* Đầu năm 1976, đơn vị bộ đội
C12 rút đi để giao hồ bơi cho Yết Kiêu lại cho Sở TDTT, tạo điều kiện
cho bộ môn bơi lội được thuận lợi hơn trong việc huấn luyện cũng như có
hồ bơi đạt tiêu chuẩn để tổ chức thi đấu các giải Bơi lội TP.HCM thực
sự bước vào thời kỳ xây dựng đầy cam go nhưng cũng rất hào hùng.
2. Thời kỳ xây dựng lực lượng 1976 – 1985:
Thời kỳ này có thể chia làm hai giai đoạn:
1. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1981: là giai đoạn mà lực lượng bơi lội của Thành phố dựa vào những VĐV đã tập luyện từ trước ngày Giải phóng.
2. Giai đoạn từ năm 1982 đến năm 1985:
là giai đoạn mà những VĐV được đào tạo dài hạn từ lứa tuổi nhi đồng
thiếu niên bắt đầu chứng minh khả năng của họ cũng như chứng minh sự
đúng đắn của kế hoạch huấn luyện được áp dụng.
a. Giai đoạn từ năm 1976 – năm 1981:
* Trong năm 1976 thành công lớn nhất của bộ môn bơi lội là việc tổ chức
thành công các giải thi đấu Toàn thành và Toàn quốc, thu hút một lượng
khán giả kỷ lục. Trong năm này bộ môn bơi lội Thành Phố đã tổ chức giải
Bơi vượt sông Toàn Thành đầu tiên vào ngày 1 – 5 – 1976 và giải Vô Địch
bơi lội Toàn Thành đầu tiên vào đầu tháng 9 – 1976 với hơn 100 VĐV tham
dự, một con số kỷ lục của Thành phố lúc bấy giờ. Đối với TP.HCM môn
bơi vượt sông là một môn hoàn toàn mới lạ, vì thế giải không chỉ thu
hút một lược lượng VĐV tham dự đông đảo mà con thu hút rất nhiều bà con
đến chứng kiến. Cũng trong năm nay, Bộ môn đã cử đội bơi tham dự giải
bơi Vượt Sông Toàn Quốc lần đầu tiên tại Huế vào tháng 7 và giải Vô
Địch Bơi Lội Toàn Quốc lần đầu tiên vào tháng 10 tại Hà Nội, ở Huế
đoàn Thành phố đã giành được hạng nhì toàn đoàn. Ba tháng sau tại Hà
Nội 13 VĐV của Thành phố đã giành được sáu huy chương vàng, tám huy
chương bạc, bảy huy chương đồng . Sáu huy chương vàng đầu tiên của Thành phố đạt được tại giải Vô Địch bơi lội toàn quốc là ở các cự ly
200m Ếch (Trần Dương Tài 2’44”40), 100m Ngửa (Võ Duy Minh 1’12”10)
, 100m Bướm (Đỗ Như Minh 1’03”60), tiếp sức 4 x 100m hỗn hợp (Võ Duy
Minh, Trần Dương Tài, Đỗ Như Minh, Trần Quí Cường), 400m Tự do nữ (Chung Thị Thanh Lan 5’52”20), 800m Tự do Nữ (Chung Thị Thanh Lan
12’18”80). Tại giải Vô Địch Bơi Lặn Toàn Quốc lần đầu tiên này ngày
thi đấu thứ hai: Thứ 7 ngày 10 tháng 10 năm 1976 là một ngày đáng ghi
nhớ cho bộ môn Bơi lội TP.HCM trong đợt bơi vòng loại cự ly
200m Ếch, VĐV Trần Dương Tài đã xuất sắc phá kỷ lục quốc gia mới
2’43”50 và sau đó VĐV nữ Chung Thị Thanh Lan đã lập kỷ lục mới cho cự
ly 800m Tự do Nữ. Đây là hai vVĐV đầu tiên của Thành phố có tên trên bảng
vàng kỷ lục quốc gia.
* Năm 1977 Bộ Môn bơi lội bắt đầu
mở rộng hoạt động về các CLB thuộc quận huyện, từ năm này rất nhiều
CLB trong Thành phố đã được đưa vào hoạt động như hồ bơi Nguyễn Bỉnh
Khiêm Q.1, hồ bơi Chi Lăng Q.Phú Nhuận, hồ bơi Cộng Hòa, Trương
Vương Q.Tân Bình, hồ bơi Phú Lâm Q.6, hồ bơi Hòa Bình Q.8, nên một số
VĐV đã được đưa về cho các quận trực tiếp quản lý và huấn luyện, bộ
môn bơi lội của Sở TDTT khi đó phụ trách những VĐV có thành tích
xuất sắc. Bên cạnh đó việc tập huấn các VĐV bắt đầu có kế hoạch dài
hạn và các VĐV ăn ở luôn tại CLB Yết Kiêu để thuận lợi cho việc quản lý
và bảo đảm chất lượng dinh dưỡng so với trước đó chỉ tập huấn ngắn hạn
và mang tính đối phó với từng giải thi đấu. Việc đầu tư như trên đã
nhanh chóng thu được kết quả, ngay trong năm 1977 đội bơi TP.HCM giành
được hạng 5 toàn đoàn trong giải bơi vượt sông Toàn quốc và giải nhất
toàn đoàn với 12 V, 11B, 4Đ trong giải Vô Địch Bơi lội Toàn quốc lần
II lần đầu tiên được tổ chức tại TP.HCM từ ngày 9 đến 11 – 10 – 1977.
Trong giải này VĐV Chung Thi Thanh Lan đã phá kỷ lục quốc gia cự ly
800m Tự Do nữ mà chị đã lập cách đó một năm với kỷ lục mới 11’33”30. Góp phần vào thành công của đội bơi lội TP.HCM trong năm 1977 không
thể không kể đến sự nhiệt tình ủng hộ của quần chúng nhân dân Thành phố
trong thời kỳ này. Trong ba ngày thi đấu giải Vô Địch Toàn Quốc năm
1977 tại Yết Kiêu nhân dân Thành phố đến dự khán luôn chật cứng cả hồ
bơi cho dù có ngày mưa khá to. Ngay trong ngày đầu tiên, khi số khán
giả vào xem quá đông, bảo vệ đã được yêu cầu đóng cửa không cho khán
giả vào thêm thì số khán giả đã tung sập cửa để vào. Trong lịch sử bơi
lội TP.HCM đây là lần duy nhất mà ban tổ chức mong muốn khán giả đừng
vào thêm nữa.
* Tháng 12 - 1977 bộ môn đã cử 3
HLV Chu Quốc Cường (hiện nay là chủ nhiệm CLB Tăng Bạt Hổ - Hà Nội), Phạm Cát Ngọc, và Trần Dương Tài tham gia khóa bồi dưỡng cho HLV được
tổ chức tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Nhổn (Hà Nội) do chuyên gia
Liên Xô hướng dẫn. Đây là 3 huấn luyện viên đầu tiên của Thành phố
được tham gia một lớp bồi dưỡng do chuyên gia nước ngoài phụ trách.
* Từ năm 1979 Trường Nghiệp Vụ
TDTT bắt đầu tổ chức đào tạo các lớp năng khiếu bơi lội Bán Tập Trung.
Từ đây CLB Yết Kiêu được hoạt động hết công suất với nỗ lực tối đa của
tất cả các nhân viên trong công tác giảng dạy và huấn luyện.
* Năm 1980 với sự hỗ trợ của Liên
Xô, bộ môn bơi lội TPHCM đã có cơ hội cử được ba VĐV Trần Dương Tài,
Du Tố Hà và Chung Thị Thanh Lan thi đấu tại Thế vận hội Moscow 1980. Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của VĐV bơi Thành phố giúp các VĐV
có cơ hội học tập những kỹ thuật bơi lội mới nhất trên thế giới.
Tuy nhiên sau khi lứa VĐV cựu trào trước giải phóng bắt đầu thôi tập
luyện, lứa VĐV trẻ kế thừa chưa đủ độ chín để thay thế, lực lượng VĐV
bơi TP tạm thời bị hụt hẫng sau thành công vang dội vào năm 1977. Thế
mạnh về bơi lội trong giai đoạn này chỉ còn tập trung vào các VĐV bơi
trẻ bơi đường dài như Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Tuyết Hương vv…để
họ bắt đầu đem về giải nhất toàn đoàn bơi Vượt Sông cho TP.HCM từ năm
1981, mở đầu một thời kỳ rực rỡ cho nền bơi lội TP trong các giài thi
đấu trên sông để đến nay chỉ có TP.HCM là đơn vị duy nhất của cả nước
đoạt được cúp Luân Lưu bơi Vượt Sông sau 3 năm liên tiếp giành giải
nhất toàn đoàn (1981 – 1982 – 1983). Từ thành công của những VĐV bơi
trẻ này báo trước một tương lai tốt đẹp cho bơi lội TP trong các giai
đoạn tiếp theo.
Kết thúc giai đoạn này VĐV bơi lội Trần Dương Tài được vinh dự là VĐV
bơi lội đầu tiên của TP được bầu chọn là 1 trong 10 VĐV tiêu biểu của
TT Việt Nam trong 2 năm liên tiếp 1978 – 1979. Anh cũng là VĐV bơi nam
của TP duy nhất tính luôn đến thời điểm hiện nay có tên trong bảng vàng
này.
b. Giai đoạn từ 1982 – 1985:
* Từ đầu thập niên 1980, bộ môn
bơi lội đã tổ chức liên tiếp các lớp bồi dưỡng về phương pháp huấn
luyện kỷ thuật bơi cho các HLV của các quận huyện trong TP. Từ ngày
20 – 8 đến 31 – 8 – 1985, lần đầu tiên Sở TDTT TP HCM đã mời chuyên
gia Eberhuu Coimuh – Liên Xô, giảng dạy các phương pháp huấn luyện bơi
lội mới cũng như các kỷ thuật hiện đại cho các HLV trong TP. Nỗ lực
này của bộ môn đã góp phần giúp cho các HLV TP nâng cao được kiến thức
chuyên môn để tự tin hơn trong công tác huấn luyện.
* Từ năm 1982, đội bơi TP với
chủ lực là các VĐV năng khiếu từ 4 năm trước đã giúp TP bắt đầu lấy lại
giải nhất toàn đoàn trong các giải Vô địch Toàn quốc. Điều này cho
thấy sự đúng đắn trong việc đầu tư huấn luyện của bộ môn bơi TP. Kết
thúc giai đoạn này có thể nói chính là khởi điểm đỉnh cao của nền bơi
lội TPHCM so với cả nước khi những VĐV bơi lội TP như Nguyễn Kiều Oanh, Nguyễn Đắc Quỳnh Anh, Mai Hằng Hà, Du Tố Hà, Phương Văn Hảo liên
tục chiếm lĩnh đỉnh cao bơi lội quốc gia. Trong đó riêng VĐV Nguyễn
Kiều Oanh đã có đến 26 lượt phá kỷ lục quốc gia (từ 1983 – 1990) để
trở thành một hiện tượng trong nền bơi lội của cả nước.
Kết thúc giai đoạn này bơi lội TP lại có thêm 2 VĐV nữ là Nguyễn Đắc
Quỳnh Anh
(1984) và Nguyễn Kiều Oanh (1985) được vinh dự bầu chọn là
một trong 10 VĐV tiêu biểu của thể thao Việt Nam.
3. Thời kỳ chuyển biến tích cực 1986 – 1995:
* Từ năm 1986 môn bơi lội TP bước vào thời kỳ chuyển
biến tích cực. Trong thời kỳ này nỗ lực để lực lượng bơi lội TP luôn
giữ vững lá cờ đầu của cả nước không còn là trách nhiệm duy nhất của
CLB Yết Kiêu nữa mà là nỗ lực chung của tất cả các CLB bơi lội quận
huyện trong TP. Song song đó CLB Yết Kiêu luôn đảm bảo kế hoạch huấn
luyện dài hạn có tính định hướng mục tiêu. Đây là chuyển biến tích
cực nhất trong công tác huấn luyện của bộ môn bơi TP trong thời kỳ này.
* Một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ này là VĐV Nguyễn Kiều Oanh
tại Đại Hội TDTT Toàn Quốc lần II năm 1990 tại Hà Nội, VĐV Nguyễn Kiều
Oanh đã lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu khi một mình đạt 14 HCV và trở
thành VĐV xuất sắc nhất đại hội, Kiều Oanh cũng vinh dự là thành viên
của đội tuyển bơi lội quốc gia tham dự 2 kỳ Olympic liên tiếp là
Olympic lần thứ 24 – Seul 1998 và Olympic lần thứ 25 – Barcelona 1992.
Dẫn dắt VĐV tại đấu trường Olympic cũng là một HLV của TP – anh Đỗ
Trọng Thịnh, Nguyễn Kiều Oanh cũng được tham dự 3 kỳ SEA Games liên
tiếp vào các năm 1989 (Kualar Lumpur), 1991 (Manila), 1993 (Singapore). Chính vì những thành tích xuất sắc trên, Nguyễn Kiều Oanh tiếp tục
được bầu chọn là VĐV tiêu biểu của thể thao Việt Nam năm
1986, 1987, 1990, 1992 (cùng với lần đầu tiên được bình chọn vào năm
1985) để trở thành VĐV đầu tiên của VN đạt thành tích 5 lần được bầu
chọn vào bảng vàng này.
Những hình ảnh đại hội TDTTTQ 1990
Thời kỳ năm 1985 – năm 1995 được xem là thời kỳ hoàng kim:
Thời kỳ 1985 – 1995 được xem là thời kỳ hoàng kim của Bơi lội Thành Phố Hồ Chí Minh
Trong những năm này VĐV bơi TP luôn giành được những thứ hạng cao nhất
trong các giải thi đấu trong nước. Ngoài VĐV Nguyễn Kiều Oanh trong
thời kỳ này TP còn giới thiệu được hàng loạt các ngôi sao trẻ tên tuổi
như Võ Trần Trường An, Nguyễn Thảo Ngọc, Võ Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị
Phương Trang (nữ); Trần Vinh Quang, Trần Duy Mỹ, Nguyễn Trọng Nghĩa,
Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Hải Dương (nam) ………. huấn luyện viên có công
đóng góp cho những thành công này là Nghiêm Xuân Cừ, Nguyễn Thị Hoàng, Đỗ Trọng Thịnh, Diệp Vĩnh Minh. Tuy nhiên cần nhìn nhận rằng trình
độ VĐV bơi lội TP vẫn còn khoảng cách trên đấu trường quốc tế. Cao
nhất chỉ có VĐV Nguyễn Kiều Oanh đạt được hạng tư tại SEA Games 17 (1993).
Những ưu thế của bơi lội TP so với cả nước để Thành phố giữ vững vị trí
hàng đầu về bơi lội trong thời kỳ này là: số lượng hồ bơi nhiều nhất
cả nước, đời sống kinh tế của nhân dân TP khá cao, có thời tiết lý
tưởng để VĐV bơi tập luyện quanh năm và nhân dân TP rất ham thích môn
thể thao này.
4. Mở cửa và phát triển 1996 – 2005:
Thời kỳ mở cửa và phát triển 1996 – 2005:
Trong thời kỳ này các tỉnh thành bắt đầu tập trung vào môn bơi nên bộ
môn bơi lội TP phải nỗ lực cao độ để giữ vững vị trí hàng đầu quốc gia. Bên cạnh đó Trung ương bắt đầu triệu tập các đội dự tuyển trẻ quốc
gia dài hạn hằng năm tại các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia nên
các tỉnn thành đều có cơ hội học tập nâng cao trình độ với các chuyên
gia nước ngoài.
Ngay từ năm 1995 khi đội dự tuyển trẻ bơi lội quốc gia bắt đầu
được huấn luyện tại trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia II, HLV
Chung Tấn Phong vinh dự là HLV bơi lội đầu tiên của TP được chọn vào
thành phần Ban huấn luyện quốc gia trong thời kỳ đổi mới phương thức
đầu tư của Quốc Gia. Trong thời gian công tác 2 năm tại đội dự tuyển
quốc gia, HLV Chung Tấn Phong được chọn là HLV trưởng đội tuyển bơi lội
tham dự Olympic lần thứ 26 tại Atalanta (MỸ) năm 1996 cùng với 2 VĐV
Trương Ngọc Tuấn (Quân Đội) và Võ Trần Trường An (TPHCM).
Đặc điểm của thời kỳ này là Bơi lội Việt Nam nói chung và TPHCM
nói riêng đã từng bước hòa nhập với các hoạt động của cộng đồng bơi lội
trong khu vực và thế giới. Sự hoà nhập này cộng với sự hỗ trợ của các
chuyên gia nước ngoài tại các tỉnh thành, địa phương đã giúp cho trình
độ chung của bơi lội Việt Nam tăng tiến rất nhanh. Bảng vàng kỷ lục
bơi lội Việt Nam không còn dành riêng cho các Trung tâm bơi lội mạnh
(TPHCM, Hà Nội, Quân Đội) mà mở rộng đến nhiều tỉnh thành khác như Long
An, Cần Thơ, Hải Phòng, Quảng Bình, Thanh Hoá….Vì vậy đứng trước sự cạnh
tranh quyết liệt từ khắp nơi, bơi lội TPHCM không còn giữ được vị trí
độc tôn trong làng bơi của cả nước mà phải quyết tâm rất lớn trong một
chiến lược phát triển mới để có thể duy trì được những thế mạnh vốn có
của mình .
Thuận lợi lớn nhất của Bộ Mộn Bơi Lội TPHCM trong thời gian này là
nhận được sự hỗ trợ tích cực của Liên Đoàn Thể Thao Dưới Nước TPHCM,
một tổ chức Xã hội được thành lập vào năm 1993. Một trong những đóng
góp quan trọng của Liên Đoàn trong thời gian này là việc tổ chức giao
lưu với trường trung học Thành phố Irvine, bang California (Mỹ) để mời
trường này cử một đoàn VĐV đến tham gia giao lưu với VĐV Thành phố vào
năm 1998 cũng như sau đó cử nhiều VĐV Thành phố sang thi đấu giao lưu
tại Mỹ.
Để tiếp cận với thành tích quốc tế, bơi lội Thành phố đã cử nhiều
VĐV Thành phố đi tập huấn nước ngoài bằng nguồn kinh phí Trung ương
(đội tuyển quốc gia) và kinh phí Thành phố. Mở đầu chương trình này
VĐV Trần Duy Mỹ và Nguyễn Trọng Nghĩa là hai VĐV đầu tiên của Thành phố
được đi tập huấn ở nước ngoài dài hạn bằng kinh phí Trung ương. Hai
anh đã được tập huấn tại Hungari, Trung Quốc và tiếp sau đó hàng loạt
VĐV đã được đưa đi tập huấn tại Trung Quốc, Đài Loan, Ucraina. Đặc
biệt từ năm 2004 bộ môn bơi lội Thành phố đã triển khai chương trình Thế Hệ Vàng với 1 HLV, 2 VĐV tại Melbourne - ÚC. Tổng cộng đến nay bơi
lội đã có 81 lượt VĐV đi tập huấn nước ngoài. Chương trình đưa VĐV đi
tập huấn nước ngoài này đã không chỉ giúp cải thiện thành tích cho
chính các VĐV mà đồng thời còn góp phần nâng cao trình độ của các HLV
đi theo.
Trên đấu trường SEA Games, bơi lội Thành phố luôn có VĐV tham gia
đội tuyển tham dự các kỳ SEA Games từ năm 1989 – 1993 là Nguyễn Kiều
Oanh. Các VĐV Thành phố từng tham dự SEA Games Trần Duy Mỹ (1995 –
1997), Võ Trần Trừơng An (1995) , Nguyễn Trọng Nghĩa (1997), Nguyễn Ngọc
Sơn (1999, 2001, 2003), Nguyễn Hải Dương (1999), Võ Tâm Thanh (2001), Võ
Thị Thanh Vy (2001, 2003), Nguyễn Hồng Ngọc
(2003), Nguyễn Hoàng Vũ
Linh (2003). Tại SEA Games 22 VĐV Võ Thị Thanh Vy là VĐV đầu tiên
đạt được huy chương SEA Games cho bơi lội Thành phố sau 30 năm, đó là
chiếc huy chương Đồng cự ly 400m HH đồng thời chị cũng đóng góp phần vào
đội tuyển tiếp sức 4 x 100m Tự Do Nữ giành chiếc huy chương đồng cho
Việt Nam.
Thành phố cũng tham dự khá đều đặn các cuộc tranh tài tại Giải Vô Địch
bơi lội các nhóm tuổi ĐNÁ. Trong đó VĐV Nguyễn Ngọc Sơn là VĐV đầu
tiên đạt được huy chương cho bơi lội thành phố tại giải trẻ ĐNÁ (HCĐ cự
ly 200 Ngửa – 1999), VĐV Nguyễn Quang Nhựt được vinh hạnh trở thành
VĐV bơi lội đầu tiên đem chiếc huy chương vàng về cho Thành phố tại
giải trẻ ĐNÁ: Nhựt đã xuất sắc đem về 2 HCV (100m – 200m Ếch) tại giải
Trẻ ĐNÁ – 6/2004 tại Việt Nam, những VĐV khác của Tp từng giành được
huy chương tại các giải trẻ ĐNÁ là Võ Tâm Thanh (2000), Lê Trần Như
Thùy (2000), Nguyễn Ngọc Quang Bảo (2002), Nguyễn Quang Huy (2002 – 2004), Trần Nguyễn Ngọc Linh (2004), Lâm Hải Thiên (2004), Phan Lê Phi Vũ (2004), Võ Thị Thanh Vy (2004), Trần Huỳnh Tuyết Mai (2004).
Song song với hoạt động nhằm trực tiếp cải thiện thành tích cho các VĐV,
các HLV cũng là đối tượng để bộ môn bơi lội và Liên đoàn thể thao dưới
nước tập trung nâng cao trình độ. Trong thời gian từ năm 1996 – 2004,
các HLV và trọng tài của Thành phố thường xuyên được đi tập huấn với
các VĐV trong các đợt tập huấn mà mỗi đợt có ít nhất là 1 HLV đi theo,
các HLV còn được tham dự các cuộc hội thảo, diễn đàn về bơi lội do
FINA tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), Hà Nội (Việt Nam), Jakata (Indoesia).
Tuy nhiên nhìn chung đối ngoại vẫn là mặt còn hạn chế của Bộ môn
Bơi lội và cả Liên đoàn, việc tham dự các giải quốc tế còn quá ít.
Bên cạnh đó cho đến nay gần 10 năm mở cửa chúng ta vẫn chưa thể tổ chức
một giải quốc tế ngay tại Thành phố.
Nhìn chung 30 năm không phải là khoảng thời gian ngắn, nhưng
trong 30 năm đó để đào tạo được hàng loạt VĐV bơi xuất sắc, để những
VĐV xuất sắc này có đến 188 lần phá kỷ lục quốc gia từ sau khi Trần
Dương Tài và Chung Thị Thanh Lan phá kỷ lục quốc gia vào ngày 16 – 10 –
1976 và đem về hàng loạt vinh quang cho Thành phố ở trong và ngoài nước
là công sức của hàng trăm, hàng ngàn cán bộ, công nhân viên trong
ngành, của hàng ngàn, hàng chục ngàn VĐV ngày ngày tập luyện để đáp
ứng lại lòng mong mỏi của hơn 7 triệu người dân Thành phố. Dù bộ môn
đã cố gắng nêu ra thật nhiều tên tuổi của những người góp sức cho Bộ
Môn, tuy nhiên vẫn còn nhiều và rất nhiều tên tuổi khác mà vì khuôn
khổ hạn hẹp Bộ môn bơi lội Thành phố Hồ Chí Minh đã không thể nêu ra
được. Xin tri ân tất cả !
Những gương mặt xuất sắc của Bơi Lội Thành Phố HCM trong 30 năm qua :
Huấn luyện viên :
1/Nghiêm Xuân Cừ
2/Nguyễn Thị Hoàng
3/Đỗ Trọng Thịnh
Vận động viên :
Nam
1. Đỗ Như Minh
2. Trần Dương Tài
3. Du Tố Hà
4. Phương Văn Hảo
5. Trần Vinh Quang
6. Trần Duy Mỹ
7. Nguyễn Trọng Nghĩa
8. Nguyễn Ngọc Sơn
9. Nguyễn Quang Huy
Nữ
1. Chung Thị Thanh Lan
2. Mai Dương Liên Nương
3. Nguyễn Đắc Quỳnh Anh
4. Nguyễn Ngọc Tú
5. Nguyễn Kiều Oanh
6. Mai Hằng Hà
7. Nguyễn Ngọc Tú
8. Nguyễn Thảo Ngọc
9. Võ Trần Trường An
10. Nguyễn Thị Phương Trang
11.Võ Ngọc Hiếu
12. Võ Thị Thanh Vy
| Những hình ảnh từ năm 1996 - năm 2005: |
|
|
Olympic Atalanta 1996

Vô Địch Quốc Gia 1997 - Bình Định


Giao lưu Việt-Mỹ 1998

Hội Khoẻ Phù Đổng TQ - Đồng Tháp 2000

Đại Hội TDTTTQ 2000




Võ Thị Thanh Vy

Nguyễn Quang Nhựt

Trẻ ĐNÁ 2005

Vô Địch Quốc Gia 2005-HàNội



 |